Thương hiệu du lịch

April 8, 2022 By Blog, Tin Tức Comments Off

Du lịch Việt Nam cần định vị cao cấp và khai thác di sản như đôi cánh để cất cánh.

Tôi mê hội hoạ nên tôi hay lang thang đồi Montmartre gần nhà thờ Sacré-Cœur mỗi khi có dịp quay lại Paris, thủ đô nước Pháp. Có lần tôi uống cafe và chủ quán thấy tôi người Châu Á mà nói tiếng Pháp, hỏi tôi từ đâu đến, tôi nói đến từ Việt Nam. Ông ấy nói với tôi Việt Nam là một đất nước tươi đẹp, phở rất ngon và rằng ông ấy thích trải nghiệm ngủ đêm trên vịnh Hạ Long. Thì ra bạn ấy đã đến Việt Nam và nhớ mỗi Vịnh rồng di sản Hạ Long và có lẽ đấy là thương hiệu du lịch Việt Nam.

Trong các chương trình thăm quan trải nghiệm cho khách lần đầu tới Việt Nam, 99% các hãng lữ hành đưa di sản vịnh Hạ Long vào trong chương trình, như một điểm phải đến, khách Châu Âu thì trải nghiệm ít nhất một đêm ngủ trên vịnh. Thật vậy Việt Nam chúng có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch so với các nước khác trong khu vực. Đặc biệt phải kể đến 4 tài nguyên: thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và con người. Tuy nhiên, những tiềm năng, tài nguyên đó chưa được phát huy xứng tầm.

Lâu nay, du lịch Việt cứ loay hoay trong việc chọn điểm mạnh nhất để xây dựng sản phẩm, xúc tiến, quảng bá nhưng lại chưa dũng cảm chọn ra được tiềm năng mạnh nhất để xây dựng thành thương hiệu du lịch quốc gia. Di sản là “mỏ vàng” đáng để Việt Nam nâng tầm, lan tỏa, tôn vinh, định vị thương hiệu du lịch quốc gia. Du lịch di sản – văn hóa là du lịch để trải nghiệm những địa điểm, hiện vật và hoạt động thể hiện chân thực những câu chuyện và con người xưa và nay. Nó bao gồm văn hóa, lịch sử và tài nguyên thiên nhiên.

Di sản thế giới tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận có đủ cả ba loại hình: di sản thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa thế giới và di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất. Du lịch ở nước ta ngày càng phát triển và thu hút khách tham quan trong và ngoài nước, đặc biệt là những khu du lịch được UNESCO công nhận như vịnh Hạ Long.

Ở Việt Nam, bất cứ vùng miền, địa phương nào cũng có di sản vật thể hoặc phi vật thể, không lớn thì nhỏ. Việt Nam hiện có hơn 40.000 thắng cảnh. Trong đó, hơn 3.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 5.000 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có tới 39 di sản được UNESCO công nhận. Trong đó có tám di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 12 di sản văn hóa phi vật thể, bảy di sản tư liệu, chín khu dự trữ sinh quyển thế giới và ba công viên địa chất toàn cầu.

Đây là tài nguyên du lịch vô cùng quý giá, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách trong và ngoài nước. Minh chứng là 3 năm liên tiếp 2019, 2020 và 2021, Giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards) vinh danh Việt Nam là “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới”.

Hiếm có quốc gia nào sở hữu số lượng di sản khổng lồ như vậy. Chính những di sản đó đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách quốc tế. Nếu như trước đây, thế giới biết đến Việt Nam là quốc gia anh hùng trong chiến tranh thì nay các di sản như vịnh Hạ Long, hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, đô thị cổ Hội An, cố đô Huế… chính là những “thỏi nam châm” thu hút du khách quốc tế, đưa Việt Nam trở thành điểm đến du lịch di sản hấp dẫn hàng đầu Châu Á.

Mặt khác, từ du lịch di sản, có thể dễ dàng kết nối du lịch mạo hiểm, khai thác các loại hình du lịch golf, nghỉ dưỡng cao cấp, sang trọng, siêu sang, chăm sóc sắc đẹp, sức khỏe; đăng cai các sự kiện lớn du lịch thể thao, MICE. Khi chọn di sản để định vị thương hiệu, cần dồn lực làm nổi “mỏ vàng” di sản lên tầm cao mới theo một cách gợi cảm xúc chân thật nhất. Hãy đặt khách du lịch làm trung tâm, tôn vinh họ, vì họ, thỏa mãn họ. Khi khách quốc tế hiểu giá trị di sản điểm đến, vui vẻ, thích thú họ sẽ truyền miệng và đấy là ‘đỉnh của chóp’ trong marketing. Còn mỗi người dân Việt Nam tự hào về văn hoá và di sản quê hương mình thì “người Việt Nam đi du lịch Việt Nam”, thêm yêu quê hương đất nước, họ sẽ là đại sứ tự nhiên.

Chọn di sản để xây dựng thành thương hiệu du lịch quốc gia nhưng phải sáng tạo, không “ăn mày di sản” hay “ăn mày dĩ vãng”. Phải làm sao để khách du lịch khắp nơi trên thế giới được chiêm ngưỡng di sản văn hoá và thiên nhiên, thưởng thức giá trị vốn có và sự sáng tạo. Nhiều khách nước ngoài thích thú với những đêm diễn đầy chất nghệ thuật như “Tinh hoa Bắc Bộ”, “Làng Tôi” hay con người Việt Nam xưa và nay.

Những du khách mà tôi có dịp hầu chuyện, sau khi đã chạm vào di sản tàu Bình Chuẩn của vua tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi (1874-1932) do tôi hồi sinh sau đúng 100 năm hạ thuỷ, đều xúc động với câu chuyện di sản và tự hào dân tộc sâu sắc, giúp họ tìm hiểu sâu hơn về nhà tư sản dân tộc này. Du khách nước ngoài trải nghiệm ngủ đêm trên du thuyền di sản độc bản giữa kỳ quan vịnh Lan Hạ thì cảm được văn hoá, lịch sử, mỹ thuật, ẩm thực, phong tục tập quán, truyền thống con người Việt Nam. Du khách rất thích nghe kể chuyện nhất là chuyện hay.

Tôi luôn mơ ước cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền ở sông Hồng, từ Hà Nội đi Hạ Long để nghe truyện rồng hay đi Hưng Yên- Thái Bình, ngược lên Phú Thọ…. Trên hành trình ấy, du khách có thể ngắm những cây cầu vắt qua hai thế kỷ như Long Biên, Thăng Long; nghe những câu chuyện dời đô nghìn năm trước, nhớ về cội nguồn từ thủa các vua Hùng… Hay những nơi thật êm đềm, sang trọng ở Hồ Tây, ngắm hoàng hôn rơi theo tiếng chuông chùa Trấn Vũ. Di sản Hồ Tây đẹp mà buồn quá, khách quốc tế nào đến chỉ nhìn hồ đâu mà phải trải nghiệm những tour du lịch, hoạt động văn hoá nghệ thuật giầu cảm xúc thì họ mới nhớ. Du lịch giờ đây tất cả là trải nghiệm, điểm đến và ký ức. Tôi chờ mãi chưa thấy Hà Nội có chủ trương kêu gọi đầu tư, xây dựng những bến du thuyền trên bến dưới thuyền, tìm tòi, mộng mơ, thư giãn và hoà mình cảnh sắc Hồ Tây. Nếu có, tôi sẽ là người đầu tiên đầu tư vào bến du thuyền Hồ Tây.

Nhu cầu cao nhưng nguồn cung hạn hẹp. Có những thời điểm, tour du thuyền Emperor Cruises ngắm hoàng hôn, thưởng cocktail trên vịnh Nha Trang của chúng tôi phải đặt vài tháng mới có chỗ. Khách du lịch được trải nghiệm những dịch vụ cao cấp trên du thuyền độc bản và như được ngược dòng lịch sử về với thời vua Bảo Đại những năm 30 của thế kỷ trước, thưởng ngoạn thiên đường biển đảo Nha Trang, thành phố từ biển Đông trong nền nhạc du dương của các nghệ sĩ, thưởng thức bữa tối sang trọng với các món hải sản tiến vua, rượu ngon không hạn chế và câu chuyện hoàng đế Bảo Đại vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam. Chỉ với 4 tiếng, mỗi khách du lịch phải trả 120 USD nhưng họ cảm thấy thực sự đáng giá. Chúng tôi có rất nhiều khách quay lại mang theo đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.

Ngoài tập trung xây dựng sản phẩm du lịch di sản – văn hóa, quảng bá cho thương hiệu quốc gia cũng vô cùng quan trọng. Mỗi địa phương phải tìm ra được sự độc đáo của mình để xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, khác biệt độc đáo. Có thể đến Hà Nội giữa 36 phố phường thưởng thức những món ngon, nghe khúc Xẩm chợ, hay nghe hát Ả Đào sang trọng , đi làng cổ Đường Lâm nghe câu chuyện xứ Đoài mây trắng, xuôi ngược sông Hồng lên thượng du Bắc Kỳ hay ra biển Đông đến Vân Đồn theo câu chuyện vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi và nghe lịch sử về cây cầu Long Biên và dòng sông Cái. Đến Hội An, bên bờ sông Hoài ngắm nhìn những căn nhà cổ nở đầy hoa giấy, nơi có biết bao tâm tư, tình cảm, điệu bài chòi của người dân nơi đây, nhớ về thương cảng xưa sầm uất đã xưa.

Việt Nam từng được Tổ chức Du lịch thế giới bình chọn là Điểm đến di sản hàng đầu thế giới năm 2020. Đây là một lợi thế của đất nước ta. Nếu thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, phải có sự lựa chọn mang tính sống còn, phải có tầm nhìn và định vị đúng. Cần làm mới lại thương hiệu và bộ nhận diện thương hiệu và có chiến lược thương hiệu, không chỉ có logo và slogan. DL Malaysia và Thailand với chiến lược thương hiệu chuyên nghiệp của họ tốt đã thu hút số khách tăng gấp 3 lần trong thời gian ngắn.

Để quảng bá rộng khắp định vị được thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam khác biệt so với các nước trong khu vực, có nội dung kể chuyện, thông điệp rõ ràng, mọi người, mọi cơ quan từ ngoại giao đến văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam ở nước ngoài (nếu có) đều nói cùng ngôn ngữ với khách hàng mục tiêu. Từ đó giúp quản lý hình ảnh du lịch chuyên nghiệp, đẹp, quảng bá xúc tiến đầu tư vào du lịch có trọng tâm, trọng điểm đi vào giá trị cốt lõi của du lịch Việt Nam.

Để du khách quốc tế đi rồi yêu và lại đến Việt Nam

April 8, 2022 By Blog, Tin Tức Comments Off

Tôi có một đoàn khách Anh quốc, thăm quan Việt Nam và Cambodia 21 ngày sau khi mở cửa du lịch, cái khó và không hài lòng của họ là visa của họ được miễn khi thăm quan 15 ngày đầu, khi quay lại Việt Nam nghỉ biển sau thăm đền Angkor lại phải xin lại thị thực Việt Nam của đoàn chỉ được vào cấp visa thời hạn 15 ngày và vào ra một lần duy nhất. Đây chỉ là một trong rất nhiều phàn nàn và làm khó du khách không cần thiết, làm khách khó đến Việt Nam và đến rồi thì nhiều chuyện chưa vui, đấy là thực trạng trước 2019.

Thể chế chính sách là một trong điểm thắt hiện nay, cùng với sản phẩm thiếu đặc trung, nhân lực thiếu và yếu, marketing chưa hiệu quả vì thiếu định vị tốt. Việt Nam chúng ta rất giàu tiềm năng du lịch tuy nhiên chưa biết cách khai thác và chưa biết liên kết giữa các tuyến điểm để tạo ra sự phong phú đa dạng về sản phẩm du lịch để hấp dẫn khách du lịch. Do đó việc chi tiêu du lịch còn hạn chế. Chẳng thế mà khách đi du lịch Thái thì không còn tiền mang về trong khi khách đến VN vẫn còn thừa tiền mang về và không biết tiêu vào đâu. Việc đầu tư du lịch ở các tuyến điểm hàng năm có tu bổ cải tạo nhưng khá manh mún và không có quy hoạch du lịch tốt.

Nguồn nhân lực thiếu và yếu, phục vụ du lịch vẫn còn hạn chế năng lực, khả năng ngoại ngữ chưa tốt, phong cách phục vụ và hơn cả là thái độ phục vụ không tốt. Nhiều người làm trong nghề dịch vụ vẫn thời vụ, chưa thực sự quý trọng yêu nghề và coi đó là nghề thấp hèn. Cần phải thay đổi thái độ phục vụ theo kiểu “Nhìn mặt mà bắt hình dong”.

Ý thức bảo vệ môi trường kém nên sẽ khiến khách phản cảm khi nhìn thấy việc xả rác bừa bãi nơi công cộng. Một lý do khác là khách du lịch biết đến Việt Nam với những nét đẹp giàu văn hóa, truyền thống và sự đa dạng thiên nhiên sinh thái. Đó là sự khác biệt của du lịch VN so với các nước khác trong khu vực. Tuy nhiên việc khai thác du lịch không quy hoạch định hướng của một số nhà du lịch cũng như sự manh mún, không thống nhất và chưa coi trọng du lịch như một nghành kinh tế quan trọng, làm du lịch tự phát của một số người dân đã làm phá vỡ cảnh quan, di sản văn hoá, tài nguyên du lịch và chạy theo mùa vụ và số đông, kinh tế không tuần hoàn.

Vậy lý do gì để khách du lịch quay lại VN?

Khách nước ngoài một đi không trở lại là bất kỳ ai là người Việt nam và đặc biệt là người làm du lịch đều không muốn và rất trăn trở. Là người làm du lịch nhiều năm tôi thấy bạn bè tôi, có khách hàng của chúng tôi đã quay lại tới 10 lần với những mục đích khác nhau, chúng tôi thành bạn bè vì nói cùng ngôn ngữ tiếng Pháp của khách và chia sẻ những gì họ nghĩ băn khoăn như những người bạn và mong chúng tôi và DLVN cải thiện nếu muốn khách quay lại.

Nhiều khách có nhu cầu mỗi năm đi một nước nhưng vì yêu có thể đến nhiều lần một nước. Họ quay lại vì chúng tôi, vì cái mới và tình bạn, sự yêu mến đất nước này và mỗi lần đến với một vùng mới. Du lịch giờ đây tất cả là điểm đến, trải nghiệm và ký ức.

Họ vẫn quay lại vì nhiều lý do khác nhau và trong đó có yêu quý những trải nghiệm mới với Công ty, các điểm đến mới, họ nói là họ thích cảnh quan, ẩm thực, thiên nhiên con người và có quan hệ đặc biệt với Việt nam và họ được đối xử theo cách mà họ muốn được đối xử và cảm thấy quan trọng, quan trọng nhất là chạm cảm xúc.

Theo TCTK cho thấy tỉ quay lại Việt Nam là rất thấp so với Thái Lan. Đa số khách Du lịch đến THĂM một lần, trái đất cũng nhiều thứ để xem, thăm và khám phá. Phần đông du khách không quay trở lại điểm đến ấy nhiều lần, Việt nam chúng ta là một ví đụ. Việt nam định vị trên bản đồ du lịch thế giới là điểm đến văn hóa nên khách đến thăm một lần cho biết. Vì quay lại vẫn xem những thứ đó, ít có gì mới. Coi Thailand và Malaysia là đối thủ của DL VN thì thấy khách đến với họ nhiều lần vì hạ tầng luôn cải thiện, làm mới sản phẩm địa phương, biển sạch hơn, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ cảnh quan, không có cáp treo, với những người khác nhau, điểm đến khách nhau, vui hơn và đúng nghĩa đi nghỉ.

Đến Việt nam rồi thì họ chưa vui lắm. Visa đắt đỏ, chính sách visa không thân thiện và dễ dàng so với các đối khách. Điểm đến đầu tiên và ấn tượng đầu tiên là mất thiện cảm vì hải quan, không chào hỏi, không biết cười với họ, ít nói được tiếng Anh. Nếu phải nối chuyến bay đến điểm đến kế tiếp từ Nội Bài hay TSN là cực hình, không thuận tiện, không có để kết nối quốc nội và quốc tế. Sân bay nhéch nhác, địch vụ kém, đôi khi khó tìm thấy chỗ sạc pin điện thoại, dịch vụ ăn uống đắt đỏ và gần như không có gì để mua sắm. Ra khỏi sân bay thì taxi dù, khách cùng không hiểu tại sao từ Sân bay về HN 500.000 VND và từ HN tới sân bay có 25000 VND, tại sao có metter mà không sử dụng. Lái xe taxi thì hầu hết không nói được tiếng anh.

Tại thành phố chỉ đi chơi rồi về ăn với ngủ. 12h là phải ngủ, vì các quán phải đóng cửa. Cần sớm đưa kinh tế ban đêm vào khai thác, thời gian từ 6h tối tới 6h sáng mới thu được nhiều tiền của khách. Khi không tăng được lượng thì hãy để họ rút hầu bao nhiều hơn. Cả thành phố HN không có lấy một sàn nhảy, vũ trường. Các hoạt động về đêm hiện chưa có mấy. Mua sắm thì phải mặc cả, nếu không mua đắt một nửa, mà cùng chẳng biết mua gì và cái gì là đặc trưng, sản phẩm mỹ nghệ cũng nghèo nàn, ít hồn cốt dân tộc nhiều hàng nhái, giả, hàng TQ. Nạn ặn xin, ăn mày, chèo kéo, chộm cướp hàng ngày trên phố. Những khu phố hay khu du lịch còn thiếu nhà vệ sinh sạch sẽ thơm tho.

Ăn uống thì sợ vệ sinh thực phẩm không an toàn. Điểm đến ô nhiễm, rác đầy, ồn ào. Nhiều người làm du lịch không có nghề, chỉ tìm cách lừa đảo, kinh doanh chộp dật. Nhiều điểm đến quá nhiều khách một quốc tịch TQ, Hàn Quốc hay Nga làm hình ảnh điểm đến và khách không thích đến và quay lại.

Tóm lại để phát triển du lịch bền vững và thu hút khách đến và đa dạng hoá nguồn khách, đặt khách làm trung tâm và thoả mãn họ, gỡ các nút thắt để khách quay trở lại VN, cần có cơ chế phát triển như một ngành kinh tế, mũi nhọn thực sự, với việc thành lập Bộ Du Lịch. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực ngành đáp ứng nhu cầu và hội nhập ASEAN, toàn dân làm DL. Định vị thương hiệu du lịch quốc gia và làm mới bộ nhận diện “Wow Việt Nam” chẳng hạn, chạm vào di sản!

Phát triển nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, đáng nhớ, giầu cảm xúc, nhiều trải nghiệm mới lạ hấp dẫn, Chính phủ phải coi du lịch di sản là thế mạnh của VN, ẩm thực là khác biệt quốc gia. Xúc tiến hiệu quả trong và ngoài nước một hình ảnh VN giầu di sản, vui, an toàn, ăn ngon, biển đẹp, nhiều cải thiện về môi trường và nhiều trải nghiệm mới mỗi năm. Đặc biệt phải miễn VISA càng sớm càng tốt, càng nhiều nước càng tốt như đối thủ Thái Lan, Indonesia hay Malaysia. Tôi tin khách sẽ đến nhiều hơn, chất hơn, thoả mãn hơn và quay trở lại nhiều hơn.

Triển vọng phục hồi thị trường du lịch quốc tế sau khi Việt Nam mở cửa du lịch trở lại

PV: Ông đánh giá thế nào về triển vọng phục hồi thị trường khách quốc tế sau ngày 15/3 cũng như khả năng phục hồi nền kinh tế xanh Việt Nam giai đoạn mở cửa hoàn toàn sắp tới?

CEO Phạm Hà: Tôi thực sự quan ngại về sự phục hồi của du lịch Việt Nam với bối cảnh hiện nay vừa có chiến tranh, vừa dịch bệnh và sự chậm chễ và không thống nhất giữa các bộ nghành và chậm truyền thông và chuẩn bị không tốt cho sự mở cửa du lịch toàn diện. Chúng ta có nguy cơ mở cửa du lịch ngày 15 tháng 3 mà không có khách tới. Không phải cứ mở cửa là có người tới như lầm tưởng. Chính sách visa chưa rõ ràng và khách Đức của tôi chưa biết là có vào được VN miễn như trước kia hay không và chính sách cách ly mới nhất là gì.

Trong ngắn hạn, muốn chiến lược mở cửa thành công thì chúng ta cần chia nhỏ thị trường có khả năng phục hồi nhanh, mạnh, bền vững, và đúng mùa du lịch của khách vào mùa hè như khách châu Âu (Đức, Tây Ban Nha, Anh, Pháp), Mỹ, Trung Đông và Úc. Cùng thị trường gần chúng ta trong ASEAN, có thể phục hồi nhanh, và thường có nhu cầu du lịch gần. Trung Quốc có thể lâu hơn, có chăng tập trung vào Hàn Quốc và Nhật Bản.

Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch và Tổng cục Du lịch cần chia thị trường mục tiêu theo ngôn ngữ hiểu văn hoá và hành vi tiêu dùng. Hàng không, lữ hành và điểm đến cùng xúc tiến sẽ tạo hiệu ứng tốt tại thị trường mục tiêu, có khách ngay hè này từ tháng 5-6. Chuẩn bị tốt cho mùa du lịch quốc tế đến tới từ tháng 9.

Chúng ta mất ít nhất 4-5 năm mới phục hồi như năm 2019, tuy nhiên không nhất thiết phải sống chết với số lượng năm sau cao hơn năm trước, mà là chất lượng, lấy khách hàng làm trung tâm sự thỏa mãn họ, lắng nghe họ, tạo nhiều trải nghiệm, cơ chế chính sách mới thông thoáng, nhiều chỗ tiêu tiền, để du khách rộng hầu bao chi tiêu nhiều hơn.

PV: Giai đoạn mở cửa trong tình hình mới, với sự thay đổi của tâm lý du khách hậu COVID, theo ông yếu tố nào sẽ tạo nên sức hấp dẫn và tính cạnh tranh cho du lịch Việt?

CEO Phạm Hà: Thời hậu Covid, cơ hội như nhau cho các quốc gia, nước nào thích ứng nhanh, chuẩn bị tốt thì sẽ có nhiều cơ hội, còn không trâu chậm thì uống nước đục. Chúng ta đang quá chậm so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam tự đặt ra quá nhiều rào cản và chưa thống nhất được các bộ, ban, nghành để phát triển du lịch như một nghành kinh tế thực sự. Du lịch di sản là tài nguyên du lịch và mỏ vàng lớn nhất Việt nam cần nâng tầm phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên, không ăn mày mãi di sản.

Thật vậy, Việt Nam chúng ta có quá nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn, hạ tầng thay đổi và cải thiện rất nhiều theo hướng thuận tiện và cao cấp, như sân bay, cảng biển, đường xá, máy bay thuê riêng, khách sạn, du thuyền sang trọng, nhiều khu thương hiệu quốc tế đến và nhiều điểm đến mới nổi trong 2 năm qua như Phú Quốc, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Vịnh Lan Hạ, khu bảo tồn Pù Luông. Du khách luôn có nhu cầu tìm về những điểm đến mới, xanh hơn, thuận thiên, thuận tiện đến dễ dàng hơn, đến vui hơi nhiều trải nghiệm, giầu cảm xúc cho thân, tâm và tuệ.

Du khách du lịch chậm lại, họ tìm tòi, mộng mơ, khám phá, thư giãn, tận hưởng, trải nghiệm giầu cảm xúc và hòa mình vào văn hóa và thiên nhiên. Chúng ta phải đặt khách hàng làm trung tâm, thoả mãn họ mọi điểm chạm để khách đi rồi muốn quay lại thay vì một đi không trở lại. Muốn vậy khách đến Việt Nam phải thực sự dễ dàng hơn, đến rồi được tiêu nhiều tiền hơn, thỏa mãn hơn, vui hơn.

Tôi cho rằng, du lịch từ góc độ doanh nghiệp cần định hướng bền vững và có trách nhiệm dựa trên sáu trụ cột: gìn giữ tài nguyên môi trường, trách nhiệm văn hoá xã hội, phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm trả lương ổn định cho người dân địa phương, khách hàng thoả mãn và doanh nghiệp có lợi nhuận. Du lịch có trách nhiệm phải tạo ra điểm đến đẹp hơn để du khách đến thăm quan và trải nghiệm, nơi đáng sống hơn cho người dân địa phương.

Du lịch giờ đây tất cả là điểm đến, trải nghiệm và ký ức. Du lịch Việt Nam hậu Covid 19 cần chất hơn lượng, tới khách cao cấp, khách sang trọng, quan tâm tới di sản văn hoá, ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn như khách châu Âu, Úc, Mỹ. Chúng ta nên tập trung vào chất hơn lượng, nhiều khách hay khách đại trà như trước kia cũng chưa có nhân lực làm ngay và luôn. Du lịch phải bền vững hơn, có trách nhiệm hơn và tuần hoàn.

PV: Sau hai năm “đóng băng,” ông nhận định du lịch Việt Nam hiện đang có những “nút thắt” gì cần tháo gỡ để có thể phục hồi nhanh chóng và mạnh mẽ?

CEO Phạm Hà: Việt Nam có thể trở thành quốc gia du lịch hàng đầu châu Á, về di sản và du lịch biển. Về lâu dài, du lịch Việt Nam cần giải quyết bốn điểm yếu, nút thắt như thể chế chính sách (trong đó phải có Bộ Du Lịch, coi du lịch là nghành kinh tế, có vấn đề visa thân thiện, không quá phụ thuộc quá nhiều vào một vài nguồn khách), nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch và định vị thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam. Cần có nhận diện lại thương hiệu trong du khách quốc tế, nhất là sau Covid, các nước đang làm mới lại thương hiệu quốc gia của họ. Cơ hội phục hồi cho các nước là như nhau hậu Covid-19, nước nào chuẩn bị tốt và nhanh thích ứng sẽ có cơ hội vàng.

Covid-19 đã làm đứt gẫy và sụp đổ nhiều mắt xích quan trọng của ngành du lịch. Việc đứt gãy các chuỗi cung ứng như vận chuyển (nhà xe cần bảo dưỡng, sửa chữa sau hai năm đắp chiếu), khách sạn (không phải tất cả đều mở cửa), hướng dẫn viên, nhân sự du lịch không có… khiến việc hồi phục khó có thể nhanh được, mà chỉ có thể từ từ.

Chúng ta rụt rè, cầu toàn dẫn tới chậm chạp, chậm cả truyền thông ra quốc tế. Trong khi Campuchia, Thái Lan đã mở cửa cả năm qua, thì Việt Nam cần có sự vào cuộc thực sự. Các bộ ngành đã đồng lòng, nhưng cần sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, vai trò của Bộ văn hóa, thể thao và du lịch là rất quan trọng trong việc quyết định doanh nghiệp nào làm, mở thị trường nào trước để tập trung xúc tiến, chứ không thể nói chung chung. Hiện tại, đại diện của Lux Group tại châu Âu đang làm road-show với hãng hàng không vừa mở đường bay tới Frankfurt để xúc tiến du lịch Việt Nam tại thị trường Đức từ ngày 7 – 8 tháng 3 và ITB Berlin Đức (8-10 tháng 3).

PV: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có đề xuất khi gửi Chính phủ yêu cầu khách du lịch phải có bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm du lịch có nội dung chi trả điều trị COVID-19 với mức trách nhiệm tối thiểu 10.000 USD. Trong khi đó, một số quốc gia hiện không yêu cầu khách du lịch phải có bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm du lịch. Quan điểm của ông thế nào về vấn đề này?

CEO Phạm Hà: So với đề trước mức này là phù hợp, tôi ủng hộ mức này, để có được mức trách nhiệm trên du khách trả 30-40 USD cho mỗi chuyến đi là chấp nhận được và cạnh tranh với các nước trong khu vực. Thực tế thì chúng tôi cũng khuyên khách mua cao hơn và bắt buộc khi có Covid sảy ra khi đi tour hay thì khác dễ dàng xử lý hơn. Lux Travel Dmc đã đưa vào điều khoản bắt buộc du khách phai mua khi tham gia các tour Vietnam Test and Go 2022 đang chào bán trên website thương mại điện tử www.luxtraveldmc.com

PV: Chúng ta đã nói đến rất nhiều việc mà ngành du lịch Việt cần phải làm nếu muốn phục hồi, nhưng nếu chỉ được chọn một việc cần kíp để ưu tiên, theo ông nên chọn gì và tại sao?

CEO Phạm Hà: Có lẽ việc khẩn cấp nhất trong ngắn hạn là phục hồi nguồn nhân lực lao động trong ngành du lịch. Họ có tình yêu mới hay chuyển nghề khách sau 3 năm Covid, giờ phải đào tạo lại, đưa họ trở lại làm việc, giúp họ về tài chính và công việc ổn định khi tương lai chưa sáng sủa. Vì du lịch tất cả là con người, chúng ta không thể có dịch vụ tốt nếu không có nguồn nhân lực có chất lượng, có năng lực và yêu nghề.

Khẩn tiếp theo xác định được điểm mạnh của du lịch VN, sản phẩm nào đặc trưng để du khách nghĩ tới là muốn đi VN, biết ngay là trải nghiệm chỉ có tại VN ví dụ như “ trải nghiệm ngủ đêm trên du thuyền giữa kỳ quan” cái đó thế giới không có, chỉ VN mới có. Tại sao du khách phải chọn VN để đến so với các nước trong khu vực như Thái Land, Malaysia, Indonesia? Từ đó nhận diện lại thương hiệu lại DLVN, cần những chuyên gia thương hiệu, không phải từ các cuộc thi. Làm mới lại mình, xác định lại chân dung khách hàng mục tiêu, nguồn khách để có chiến lượng tiếp thị hiệu quả. Khách hàng ở đâu thì marketing ở đó. Trong nước cần truyền thông nhận thức của du khách và xã hội đối với nghành du lịch. Mỗi người dân yêu di sản văn hóa đất nước mình bằng sự tự hào và giới thiệu du khách như đại sứ du lịch. Marketing hiệu quả trên môi trường số, đong đo đếm được số lượng khách, cần chuyên trách cho từng khu vực và thị trường và chiến lược dài hơi và cụ thể hóa tầm nhìn DLVN.

PV: Khi bước vào giai đoạn mở cửa du lịch, Lux Group có gặp phải khó khăn nào không? Hiện công tác chuẩn bị đón khách quốc tế của Lux Group đang tiến triển ra sao và ông có gặp vướng mắc gì khi làm việc với các đối tác nước ngoài không?

CEO Phạm Hà: Tôi đặt ngôi sao năm cánh cho sự khác biệt độc đáo du lịch Việt Nam trong khu vực là văn hóa, ẩm thực, thiên nhiên, con người và công nghệ thông tin. Chúng ta có các điểm nghẽn cần khơi thông để phát triển kinh tế du lịch là cơ chế chính sách, chất lượng nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch và xúc tiến truyền thông. Cơ hội cho các quốc gia là như nhau hậu Covid, các tỉnh thành trong một nước cũng như nhau, nên tỉnh thành nào nhanh chóng thính ứng nhanh sẽ phục hồi và phát triển nhanh chóng và được truyền thông tốt.

Chúng ta rụt rè, cầu toàn dẫn tới chậm chạp, chậm cả truyền thông ra quốc tế. Trong khi Campuchia, Thái Lan đã mở cửa cả năm qua, thì Việt Nam cần có sự vào cuộc thực sự. Các bộ ngành đã đồng lòng, nhưng cần sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, vai trò của Bộ văn hóa, thể thao và du lịch là rất quan trọng trong việc quyết định doanh nghiệp nào làm, mở thị trường nào trước để tập trung xúc tiến, chứ không thể nói chung chung. Hiện tại, đại diện của Lux Group tại châu Âu đang làm road-show với hãng hàng không vừa mở đường bay tới Frankfurt để xúc tiến du lịch Việt Nam tại thị trường Đức từ ngày 7 – 8 tháng 3 và ITB Berlin Đức.

Cái doanh nghiệp du lịch cần lúc này là vốn, nhân lực và chính sách thuận lợi. Giờ là lúc mở tung cơ chế kìm hãm nghành này phát triển thành nghành kinh tế, có hẳn Bộ Du lịch từ Trung ương tới địa phương, thống nhất tới Sở và Phòng Du Lịch, có cơ chế chính sách đúng với nghành kinh tế. Những doanh nghiệp này cùng với các hãng hàng không, du thuyền, khách sạn cùng xúc tiến tại một thị trường mục tiêu, theo ngôn ngữ trường thị trường thì sẽ ra kết quả nhanh và có chất lượng.

Năm 2022, du lịch nội địa vẫn là bình oxy vẫn cho các doanh nghiệp, tiếp tục các xu thế và chiến dịch người Việt Nam du lịch Việt Nam. Các điểm đến mới nổi cũng có cơ hội như nhau, điểm đến nào thích ứng nhanh, linh hoạt, thay đổi tư du làm du lịch theo hướng bền vững sẽ phát triển tốt. Du lịch Việt Nam có thể định vị du lịch biển hay du lịch di sản với nhiều trải nghiệm mới lạ, giầu cảm xúc, hạ tầng cải thiện, chính sách visa thân thiện, du lịch tuần hoàn, bền vững, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia du lịch trong khu vực Đông Nam Á.

PV: Đại diện cho Lux Group, ông mong muốn điều gì nhất lúc này và có đề xuất gì với các cấp quản lý ngành?

CEO Phạm Hà: Hãy đồng hành cùng doanh nghiệp để phục hồi và phát triển, coi DN là đối tượng phục vụ thay vì quản lý. Đối thoại với doanh nghiệp cùng hướng tới thị trường mục tiêu để thu hút khách bền vững. Hãy đừng xây dựng các điểm đến DL VN bền vững hơn, giờ là lúc hoặc không bao giờ có thể xây dựng và định vị thương hiệu du lịch VN có chất lượng và uy tín, cao cấp, độc đáo, tập trung chất hơn lượng, DL cao cấp. Về lâu dài hãy xác định DL là nghành kinh tế thực sự, có riêng bộ Du Lịch, hoạt động thống nhất hiệu quả từ TW tới địa phương, để DL VN cất cánh, đóng góp nhiều hơn 10% cho GDP tạo ra nhiều công ăn việc làm và có tính lan tỏa cao.

Để doanh nghiệp lữ hành hồi sinh, phục hồi và phát triển bền vững, cần giải các nút thắt cổ chai như trên và là điểm yếu cốt tử của du lịch Việt Nam xưa nay. Cần tư duy đột phá để bứt tốc du lịch, cần có cơ quan chuyên trách phục hồi kinh tế xã hội, trong đó có du lịch, gỡ khó, gỡ rối chính sách theo hướng phục vụ và vướng mắc cho doanh nghiệp bằng đòn bẩy tài chính, cơ chế chính sách. Hà hơi tiếp sức 5% doanh nghiệp đã cầm cự được trong suốt hai năm qua, chứng tỏ họ có sức nội sinh và phục hồi được.